Nhân vật nổi tiếng tuổi sửu

CÁC NHÂN VẬT TUỔI SỬU TRONG LỊCH SỬ VÀ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM (06/08/2009 11:01)



TUổI ấT SửU

1265- Bùi Mộc Đạc: Chính là họ Phố, được vua Trần Anh Tông cho đổi họ làm quan ba triều, có đi sứ nhà Nguyên (1306)

1325- Trần Nguyên Đán: ông ngoại của Nguyễn Trãi, làm đến chức Tư đồ, đời vua Trần Nghệ Tông. Cũng năm ất Sửu ông về ở ẩn ở Côn Sơn (Hải Dương) 5 năm sau thì mất.

1385- Lê Lợi: Nhà lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, giải phóng đất nước lập ra triều đại nhà Lê, tức Lê Thái Tổ. ông cũng mất vào năm Sửu (1433), ở ngôi 6 năm, chôn tại Vĩnh Lăng (Lam Sơn)

1445- Quách Hữu Nghiêm: Quê ở Thái Bình, đỗ Hoàng Giáp năm 21 tuổi, làm quan đến Thượng thư Bộ Lại, có đi sứ nhà Minh (1502)

1865- Cao Thắng: quê Hương Sơn (Hà Tĩnh) vị tướng xuất sắc trong cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng, đã chế được súng trường theo kiểu của Pháp cho nghĩa quân, bắt sống được Đinh Nho Quang. Mất khi mới 29 tuổi.

1865- Nguyễn Trọng Quản, quê ở Bà Rịa, con rể Trương Vĩnh Ký, đi học ở Alger, về Sài Gòn làm giáo viên. Tác giả cuốn tiểu thuyết đầu tiên ở Việt Nam: "Truyện thầy Lazoro Phiền" (1887). Mất năm 1911.

TUổI ĐINH SửU:17- Bát Nàn tướng quân, chính tên là Võ Thị Thục, quê ở Thái Bình, tham gia cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, mất trong cuộc chiến đấu chống Mã Viện năm 43.

1577- Nguyễn Đăng, quê làng Đại Toán (Bắc Ninh) đi thi hương, hội, đình và ứng chế đều đỗ đầu, nên gọi là Tứ nguyên. Có đi sứ Trung Quốc (1613). Nổi tiếng về phú: có câu thành ngữ: Phú ông tỏi, hỏi làm chi (Tỏi là làng Đại Toán).

1717- Đinh Thì Trung, quê Đông Sơn (Thanh Hoá), nổi tiếng thần đồng, được ví với Vương Bột (Trung Quốc). Bị giặc bắt, nhảy xuống sông Bạch Đằng tự tử (1776).

1757- Nguyễn Hữu Thận: Quê Quảng Trị, làm quan triều Gia Long đến Thượng thư Bộ Hộ, coi sóc toà Khâm thiên giám. Nổi tiếng về toán học và thiên văn. Mất năm 1831


1817- Nguỵ Khắc Đản, quê ở huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh). Đỗ Thám Hoa (1856) làm quan thời Tự Đức cùng với Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, đi sứ nước Pháp (1863).

1877- ưng Bình, cháu nội Tuy Lý Vương, làm quan đến Bố Chánh, hàm Thượng thư, năm 1940 được cử làm Viện trưởng dân biểu Trung Kỳ, nhưng chủ yếu là một nhà thơ nổi tiếng ở Huế, mất năm 1961.

TUổI Kỷ SửU:
1289- Nguyễn Trung Ngạn, quê ở ân Thi (Hưng Yên) đỗ Hoàng Giáp năm 15 tuổi, làm quan cả bên võ và bên văn, đến chức Thành khiển, có đi sứ nhà Nguyên (1314).

1649- Đặng Đình Tướng, quê ở Chương Mỹ (Hà Đông), đỗ tiến sĩ, làm quan đến đại tư mã, có đi sứ Trung Quốc(1697) giỏi cả bên văn bên võ. Về hưu lại được gọi ra tôn lên hàng Ngũ lão được tôn là Tiên quốc lão, thọ đến 87 tuổi, mất năm 1736.

1769- Lê Chất quê ở Bình Định, làm tướng Tây Sơn, về với Gia Long, có nhiều võ công, được phong làm tổng trấn Bắc Thành. Sau khi mất (1826) bị vua Minh Mạng kết tội, sang đời Tự Đức mới được minh oan.

1829- Tự Đức, chính tên Nguyễn Hồng Nhậm, làm vua năm 1848 trong hoàn cảnh đất nước gay go, bị quân Pháp xâm lược, mất cả Nam Kỳ. Nhưng ông lại là một nhà văn hoá xuất sắc, có nhiều đóng góp cho văn học, nghệ thuật.

1889- Nguyễn Văn Tố, hiệu ứng Hoè, quê Hà Đông, nổi tiếng học giả làm việc trường Viễn Đông Bác Cổ, Hội trưởng Hội Truyền Bá Quốc ngữ. Sau 1945 là chủ tịch Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Mất trong kháng chiến chống Pháp ở Bắc Cạn (1947).

1889- Nguyễn Phan Long ở Sài Gòn, nổi tiếng về Pháp văn, làm chủ bút nhiều tờ báo chữ Pháp từ trước năm 1945. Có được tham gia Chính phủ Sài Gòn mấy tháng rồi bị đổ (1950), 10 năm thì mất.

TUổI TâN SửU
761- Phùng Hưng, nhà lãnh tụ chống lại quân xâm lược nhà Đường đánh đuổi Cao Chính Bình, lập nền tự trị, được nhân dân suy tôn là Bố Cái Đại Vương (791), mất năm 41 tuổi (802).

1241- Trần Quang Khải, con vua Trần Thái Tông, có tài văn chương và quân sự, được phong tước Chiêu Minh Vương, làm đến Thái Sư, có công cùng với Trần Hưng Đạo đánh đuổi giặc Nguyên. Mất năm 1294.

1421- Ngô Thị Ngọc Giao, con gái của Ngô Từ, mẹ vua Lê Thánh Tông, được tôn là Quang Thục Hoàng thái hậu, có công dạy dỗ con và cũng am hiểu văn chương đạo lý. Mất năm 1496.

1481- Nguyễn Giản Thanh, quê Bắc Ninh, đỗ Trạng nguyên (1508), làm quan với nhà Lê, rồi nhà Mạc, nhiều lần đi sứ Trung Quốc.

1601- Đinh Văn Tả, võ tướng xuất sắc đời nhà Lê, làm quan đến Tả đô đốc, đánh thắng, diệt được quân Mạc. Mất năm 1680. Con cháu đời đời nổi tiếng về võ công, dân gian truyền tụng là: Họ Đinh đánh giặc

1841- Bùi Viện, quê Kiến Xương (Thái Bình) đỗ cử nhân, đã từng tự động sang Mĩ gặp tổng thống Lincoln, không có Quốc thư phải trở về, có công mở mang cửa biển Hải Phòng, thành lập đội tuần dương (Hải quân) đời Tự Đức. Mất năm 1878.

1841- Nguyễn Thức Tự, quê Nghi Lộc (Nghệ An), đỗ cử nhân, làm chức Sơn Phòng xứ Hà Tĩnh, nên gọi là cụ Sơn. Dạy học nổi tiếng, là thầy học các ông: Phan Bội Châu, Đặng Nguyên Cần. Các con ông là Nguyễn Thức Canh, Nguyễn Thức Đường, Nguyễn Thức Bao đều hy sinh vì nước. Mất năm 1923.

1901- Trần Huy Liệu, quê Vụ Bản (Nam Định), nhà báo xuất sắc đã lập Cường học thư xã ở Sài Gòn. Ly khai Việt Nam Quốc Dân Đảng để ra nhập Đảng Cộng Sản, bị tù ở Côn đảo, Sơn La. Tháng 8 năm

945 được bầu là phó Chủ tịch ủy ban dân tộc giải phóng, Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, vào Huế tước ấn kiếm của Bảo Đại. Làm Viện trưởng Viện Sử học cho đến khi mất (1969), được mời làm Viện Sĩ Viện Hàn lâm nước Cộng hòa dân chủ Đức.

1901- Trịnh Đình Thảo, quê Hà Đông, đỗ tiến sĩ Luật khoa, làm luật sư tòa thượng thẩm Sài Gòn. Bộ trưởng Bộ tư pháp (1945) trong Chính phủ Trần Trọng Kim. Năm 1968, lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hòa bình Việt Nam và là Phó Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam. Mất năm 1986.

1901- Nguyễn Thái Học, quê Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng. Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, bị giặc giết, lên máy chém cùng với 12 đồng chí khác (Phó Đức Chính, Đào Văn Nhật,...) ngày 17/6/1930.

901- Ngô Văn Triện, bút danh Trúc Khê, quê Hà Nội, tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng, bị Pháp bắt giam. Sau đó trở về chuyên hoạt động văn học và sáng tác.

1901- Phùng Chí Kiên, quê Diễn Châu (Nghệ An), học các lớp huấn luyện Quảng Châu, trường võ bị Hoàng Phố, có ở Matxcơva. Được bầu vào Trung ương Đảng Cộng Sản Đông Dương. Hoạt động ở Hồng Kông, Côn Minh rồi Cao Bằng, chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn. Bị địch bắt, hy sinh năm 1941.


TUổI QUý SửU
1493- Lê Tương Dực, chính tên Lê Oánh, làm vua năm 1509, không được lòng dân, bị Trịnh Duy Sản giết (1516). ông bắt xây nhiều cung điện, trong đó có Cửu Trùng Đài bị bỏ dở.

1673- Nguyễn Quý ân, quê Từ Liêm (Hà Nội), đỗ Hoàng Giáp là con Nguyễn Quý Đức, nổi tiếng là vị quan có đức nghiệp. Ba cha con, ông, cháu (Con là Nguyễn Quý Cảnh) đều làm đến Thượng thư, được nhân dân cảm phục.

1853- Nguyễn Hiển Dĩnh, quê Điện Bàn (Quảng Nam) làm quan đến Tuần phủ nhưng nổi tiếng là tác giả đến 20 vở tuồng có giá trị. Về hưu vẫn thành lập đội tuồng (1907). Mất năm 1926.

1913- Lý Tự Trọng, quê Thạch Hà (Hà Tĩnh), tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Năm 1931, bắn chết tên mật thám Pháp, bị bắt, kết án tử hình.

Comments